1. Về tình trạng văn bản:
Bản văn hiện còn có khổ lớn (16 x 26cm), không thấy bìa, còn khá nguyên vẹn. Chữ khắc sắc nét, đẹp, tuy có đôi chỗ mờ, nhòe do kỹ thuật in ấn, nhưng không đáng kể. Sách được sử dụng nhiều, gấp đôi lại, nên hơi nhàu. Người sử dụng có viết thêm vào những đoạn sách in vân vân, cốt để nhớ khi đọc tụng hành lễ. Vài nơi còn chua thêm chữ quốc ngữ bên cạnh chữ Nôm, nhưng phiên âm cũng không xác đáng lắm. Tổng cọng gồm 33 tờ đôi, in hai mặt, được sắp xếp như sau:
– Tờ đôi đầu tiên, giữa ghi tên sách Mông Sơn thí thực khoa nghi bằng chữ lớn; bên trên ghi một dòng ngang: Thiên vận mậu ngọ, hạ mạnh (tháng 4 năm mậu ngọ), có chua thêm số 1918 ở giữa, có lẽ do chủ nhân bản văn trước đây ghi thêm vào; bên phải ghi: Bích Liên đường tản nhân Trí Hải phụng diễn nghĩa (người nhàn tản ở Bích Liên đường là Trí Hải kính diễn nghĩa); bên trái ghi: Cẩm giang Vĩnh Khánh tự tăng Chí Tâm phụng lục (tăng sĩ Chí Tâm ở chùa Vĩnh Khánh bên sông Cẩm kính ghi.
– 3 tờ đôi tiếp theo, có đánh số nhất, nhị, tam (1, 2, 3) bên lề trái, là bài tựa viết theo lối chữ thảo rất đẹp, không thấy tên người soạn. Bốn tờ đôi cuối cùng, đánh số nhập lục, nhập thất, nhập bát, nhập cửu (26, 27, 28, 29) bên lề trái, là bài bạt, cũng theo lối chữ thảo, có tên người soạn. Còn một số chữ trong 2 bài tựa và bạt chưa đoán ra nên chúng tôi chưa thể dịch đem vào đây. Lạc khoản cuối bài bạt ghi: Bình Định tỉnh, Cẩm Văn thôn, Vĩnh Khánh tự bổn đạo tịnh bổn tỉnh chư sơn bổn đạo đồng nguyện trợ khắc lưu bố. Khải Định nhâm tuất niên, chính nguyệt, cát nhật khắc hoàn. Bản tàng tại Vĩnh Khánh tự. (Bổn đạo chùa Vĩnh Khánh tại làng Cẩm Văn, tỉnh Bình Định cùng bổn đạo các chùa trong tỉnh đồng phát nguyện góp khắc bản in để truyền bá. In xong vào ngày tốt, tháng giêng năm nhâm tuất (1922) dưới triều vua Khải Định. Bản in giữ tại chùa Vĩnh Khánh.)
– Phần Chánh văn gồm 25 tờ đôi, đánh số bên lề trái từ nhất (1) đến nhập ngũ (25), in 2 mặt thành 50 trang. Để độc giả tiện theo dõi, trong phần này chúng tôi sẽ phân chia mỗi tờ đôi thành 2 mặt a và b. Ví dụ: 12a và 12b là tương ứng với 2 mặt của nguyên bản được đánh số thập nhị. Phần lớn các trang được trình bày phía trên là nguyên văn chữ Hán, dưới là phần diễn Nôm, nhưng cũng có nhiều đoạn tụng niệm phổ thông không thấy diễn Nôm, chỉ in chữ Hán nguyên trang hoặc nửa trang, hoặc một phần ba trang, từ trên xuống dưới. Như thế, dịch giả đã diễn Nôm hầu hết bản Mông Sơn thí thực khoa nghi. Nội dung như sau:
- Bài tứ tuyệt Nôm (sáng tác thêm), trang đầu (1a). Bày tỏ nỗi đau lòng vì thấy các cô hồn bơ vơ vất vưởng trong những mồ hoang xiêu lạc, không ai đoái hoài.
- Triệu thỉnh tất cả cô hồn 3 lượt, niêm hương 3 lượt, từ trang 1b đến một nửa trang 2b: diễn Nôm thành 31 câu, hợp dụng các văn thể Việt Hán. Sám chủ thành khẩn, ân cần mời mọi cô hồn tề tựu về trai đàn nghe kinh, hưởng thí thực.
- Triệu thỉnh 13 loại cô hồn, từ giữa trang 2b đến giữa trang 8a. Diễn Nôm thành 130 câu theo thể thơ song thất lục bát, nội dung triệu thỉnh 13 loại cô hồn từ vua chúa, tướng tá đến các thành phần trong xã hội cũng như ngạ quỷ yêu ma do quỷ vương Diện Nhiên cai quản, cùng đến trai đàn nghe kinh, hưởng thí thực.
- Bài Bạch, thể tứ lục, từ trang 8b đến một phần ba trang 10a, diễn Nôm theo thể tứ lục thành 40 câu. Sám chủ kêu gọi tất cả cô hồn ở trai đàn hồi tâm lắng nghe thuyết pháp, thọ hưởng bố thí để giải thoát khỏi cảnh đọa lạc đắm chìm.
- Bài Khô lâu tán, thể tá, từ trang 10a đến gần hết trang 11b, diễn Nôm thành 34 câu lục bát, nội dung bày tỏ nỗi đau đớn xót xa khi gặp một sọ người nằm lăn lóc trong lùm cỏ hoang rậm rạp, không người chôn cất. Sám chủ ân cần mời đến pháp đàn nghe kinh, thọ thí để được siêu thoát về cõi Phật an vui.
- Bài Trạo văn, thể cổ phong độc vận, từ trang 12a đến một phần ba trang 17b, diễn Nôm thành 136 câu lục bát, nội dung nhắc lại việc triệu thỉnh hết thảy mọi giới cô hồn đến hưởng thí thực, nghe thuyết pháp và cầu nguyện tất cả mau được vãng sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà.
- Bài văn Phục dĩ, thể tứ lục, từ giữa trang 21b đến giữa trang 24a, diễn Nôm thành 45 câu, nội dung nguyện đem công đức ở trai đàn hồi hướng về mọi giới cô hồn để sớm ngộ đạo thành Phật.
- Bài Chúc tống Nôm (sáng tác thêm), từ giữa trang 25a đến cuối trang 25b, gồm 16 câu lục bát, sám chủ cầu nguyện các cô hồn đều được siêu thoát và gia chủ được phúc lành, thanh thản.
Đọc toàn bộ các phần diễn Nôm trên đây, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về lối hành văn hết sức lưu loát, trôi chảy. Dịch giả đã khéo vận dụng mọi thể loại Việt Hán để chuyển dịch một nguyên tác Hán văn đầy dẫy những thành ngữ, điển tích chuyên môn của Tam giáo, nhằm cống hiến cho chúng ta một văn phẩm Nôm tao nhã, trang trọng mà vẫn dễ hiểu. Cách dùng chữ, ngắt câu phảng phất phong vị, nhạc điệu của Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Trăm thương của Tương An quận vương Miên Bửu, chứng tỏ dịch giả là một bậc uyên bác về Nho, Phật và văn học cổ điển nước nhà, lại chan chứa lòng từ bi nhân hậu của một cao tăng và tâm hồn nhạy cảm của một nghệ sĩ có biệt tài.
Mông Sơn thí thực khoa nghi diễn Nôm xứng đáng là một tác phẩm văn học Phật giáo cần được phổ biến và khơi sâu nhiều hơn nữa, để đóng góp vào nền văn học Phật giáo Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, hiện đang được nghiên cứu và công bố còn rất ít ỏi, sơ sài.