I. Mông Sơn thí thực – Đại Mông Sơn thí thực:

Đời Tống, cao tăng Bất Động vốn người Thiên Trúc (Ấn Độ), tên A Thiểm Cán Phiết Cán Tư La, tinh thông giáo lý Hiển Mật và Tính Tướng, sang Tây Hạ ở chùa Hộ Quốc, dịch kinh điển Mật tông, được gọi là Kim Cương Thượng sư. Sau ngài sang Trung Quốc, đến ở núi Mông Sơn tại Tứ Xuyên (nay thuộc huyện Danh Sơn). Mang từ tâm cứu độ các cô hồn lạc loài trong chốn u minh, ngài tham cứu kinh Du-già Diệm Khẩu và các bộ kinh khác của Mật tông, diễn dịch thành Tiểu thí thực pháp, còn gọi là Tiểu Mông Sơn pháp, Cam lộ pháp hay Mông Sơn thí thực. Vì thế, ngài được tôn xưng là Cam Lộ Đại sư.

Đệ tử của ngài là Lặc Bố truyền bá phép này đến vùng Bảo An. Dần dần, phép này được thực hành khắp nơi và trở thành một khoa nghi cần thiết của Phật giáo. Về sau, đại sư Hưng Từ hết sức đề xướng, thêm vào 6 phiên khai thị, gọi chung là Đại Mông Sơn thí thực.

Khi thực hành khoa nghi này, dưới thiết trí pháp đàn, trên cung thỉnh tượng Phật, giữa đặt hương hoa, quả phẩm, lò hương, giá đuốc, dùng 2 chén đựng đầy gạo và nước trong rồi thỉnh cao tăng chủ trì pháp đàn ra thuyết pháp. Đối diện pháp đàn là đài cô hồn. Vị chủ lễ triệu thỉnh các cô hồn trong lục đạo, khắp mười phương. Niêm hương xong, lấy vải vàng hay dây thừng bao vòng quanh tận trước pháp đàn để các cô hồn và quỷ thần đến lễ bái, nghe thuyết pháp, thọ nhận bố thí thật thuận tiện không bị trở ngại.

Thường hành lễ từ 7 đến 11 giờ đêm, vì quá giờ này quỷ thần không được hưởng thí thực, nhưng cũng có nơi hành lễ trong điện vào xế chiều.

Phép thí thực này bắt nguồn sâu xa từ kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu đà-la-ni do ngài Bất Không (đệ tử của Sơ tổ Mật tông Trung Quốc Kim Cương Trí) dịch vào đời Đường.

Kinh này nói rằng, lúc bấy giờ đức Phật đang thuyết pháp tại tăng xá Ni-câu-luật-na trong thành Ca-tỳ-la-vệ, tôn giả A-nan ngồi nhập định ở chỗ thanh vắng. Trong đêm hôm đó, khoảng quá canh ba bỗng thấy một ngạ quỷ tên Diệm Khẩu (còn gọi là Diện Nhiên) xuất hiện, cổ họng nhỏ như cây kim, hình dáng khô gầy xấu xí, tóc xõa rối bời, móng vuốt sắc bén giơ ra rất đáng sợ, miệng phun lửa đỏ. Ngạ quỷ đến trước ngài A-nan và báo rằng còn 3 hôm nữa ngài sẽ chết rồi đọa vào đường ngạ quỷ. Tôn giả nghe như vậy sinh tâm hoảng sợ, liền hỏi xem phải làm sao để thoát khỏi cảnh khổ ấy. Ngạ quỷ bảo, nếu ngày mai Tôn giả có thể bố thí cho vô số ngạ quỷ cùng vô số các vị tiên nhân bà-la-môn, mỗi người đều được thí cho một hộc lương thực... cũng như vì ngạ quỷ mà cúng dường Tam bảo thì bản thân ngài sẽ được tăng tuổi thọ lại cũng giúp cho ngạ quỷ này được thoát khỏi cảnh khổ và sinh lên cõi trời.

Tôn giả A-nan nhìn thấy ngạ quỷ thân hình khô gầy xấu xí, miệng phun lửa đỏ, cổ họng nhỏ như cây kim... lại nói ra những lời đáng sợ như vậy thì hết sức kinh hoàng, lông trên người dựng ngược cả lên, vội vàng đứng dậy tìm đến đức Phật, run rẩy quỳ lạy dưới chân Phật cầu xin ngài chỉ dạy phương thức để không phải đọa vào cảnh ngạ quỷ. Đức Phật bảo A-nan: “Ông không nên quá lo lắng, ta có cách giúp ông có thể bố thí cho vô số ngạ quỷ cùng vô số các vị tiên nhân bà-la-môn đều được đầy đủ món ăn thức uống.”

Sau đó đức Phật truyền dạy thần chú Vô lượng uy đức tự tại quang minh thù thắng diệu lực (tức chú biến thực) như sau:

“Na [Nam] mô tát phược [phạ] đát tha nghiệt [nga] đa [da] phược [phạ] lô [lồ] chỉ đế úm [án] tham [tam] bà [bạt] ra tham [tam] bà [bạt] ra hồng.” (i)

Đức Phật dạy ngài A-nan rằng, thần chú này có năng lực giúp người trì chú có thể bố thí cho vô số ngạ quỷ, vô số các vị tiên nhân bà-la-môn... thảy đều được no đủ với các món ăn thức uống...; còn có thể giúp các ngạ quỷ được thoát khổ sinh lên cõi trời, cũng giúp người trì chú được tăng tuổi thọ...

Về phép thí thực, vào buổi sáng sớm hoặc bất cứ lúc nào trong ngày đều được, dùng đồ chứa tinh khiết đựng đầy nước trong, bỏ vào ít thức ăn hoặc các loại bánh. Đặt tay phải lên đó rồi tụng chú biến thực như trên 7 lần và niệm danh hiệu 4 đức Phật là: Đa Bảo Như Lai, Diệu Sắc Thân Như Lai, Quảng Bác Thân Như Lai và Ly Bố Úy Như Lai. Xong, búng móng tay 7 lượt rồi đưa tay bưng đồ đựng thức ăn đổ lên mặt đất sạch.

Khi thực hành bố thí theo pháp này thì vô số ngạ quỷ khắp bốn phương ngay khi ấy đều thấy trước mặt họ có đầy đủ các món ăn. Những ngạ quỷ ấy thọ nhận thức ăn này rồi đều được no đủ, lại sẽ bỏ thân ngạ quỷ mà sinh lên cõi trời.

Trong sách Tiêu thích kim cương khoa nghi hội yếu chú giải (銷釋金剛科儀會要註解) có nói: “Người thực hành niệm chú này, hoặc 3 lượt, hoặc 7 lượt, hoặc 21 lượt, uy lực của chú sẽ biến các thức ăn cúng dường thành đủ loại cao lương mỹ vị của chư thiên, có đủ 5 màu sắc và 5 mùi vị ngon nhất, mỗi món như vậy đều chất đầy như núi Tu-di.”

Sách này cũng nói rằng, trước đó nên niệm chú Tịnh pháp giới lạm tự và tay bắt ấn cát tường, đủ 21 lượt để gia trì làm thanh tịnh Pháp thực. Về phép bắt ấn, dùng ngón cái và ngón vô danh của bàn tay phải ấn vào nhau, 3 ngón còn lại đều bung ra. Tiếp đó mới niệm chú biến thực. Cuối cùng, niệm chú Phổ cúng dường:

“Úm [Án] nga nga nẵng tam bà phược [phạ] phạt [phiệt] nhật ra hộc [hồng].”

Vào đời Đường, phép thí thực này là nghi thức tất yếu được thực hành hằng ngày của Mật tông. Qua các đời sau, Mật tông suy yếu, phép thí thực này cũng biến đổi, pha trộn các nghi thức của những tông phái khác, chỉ còn giữ lại các câu thần chú trong kinh. Đời Tống, Kim Quang Minh sám pháp bổ trợ nghi (金光明懺法補助儀) của Đại sư Tuân Thức (tức Từ Vân Sám chủ) có phần văn thí thực xen vào. Đời Nguyên, Mật tông có cơ hội hưng thịnh lại, trong Du-già tập yếu Diệm Khẩu thí thực nghi  (瑜伽集要焰 口施食儀) có thêm phần triệu thỉnh thập loại cô hồn. Đời Minh, thiền sư Thiên Cơ có biên soạn Tu tập Du già tập yếu thí thực đàn nghi, nay thường gọi là Thiên Cơ Diệm Khẩu, cũng có phần văn triệu thỉnh cô hồn. Như thế, đối tượng thí thực không chỉ là ngạ quỷ mà bao trùm mọi giới cô hồn vật vờ nổi trôi giữa chốn u minh. Điều này, trong Thích môn chánh thống, quyển 4, Chí Lợi Sinh đã nhận định rất xác đáng: “Xét phép thí thực, không phải tất cả người, trời đều biết rõ, chỉ đức Phật, vì lòng từ bi che chở khắp muôn loài, không đành nhìn mọi sinh linh chịu đói, để tôn giả A-nan có cơ duyên vốc nắm thức ăn, niệm chú mà bố thí. Nay Phật môn đều thực hành theo, gọi là thí thực ngạ quỷ. Xem kinh luật ghi chép, có 3 cách gọi không giống nhau: kinh Niết-bàn gọi là quỷ Khoáng Dã, kinh Diệm Khẩu ngạ quỷ gọi là quỷ mặt cháy (diện nhiên), luật Tỳ-nại-da lại gọi là Ha lợi đế mẫu. Chẳng qua, tất cả đều do đức Phật khéo quyền biến chỉ dạy cả.”



  ‹    
  ›    
A+   A-
Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi